Hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng mua bán

Có một thực tế phổ biến khi mua lại một công ty là trong hợp đồng thường có thêm một điều khoản về hạn chế cạnh tranh. Loại điều khoản này quy định rằng trong một khoảng thời gian nhất định sau khi bán và trong một lĩnh vực hoạt động cho phép, bên bán sẽ không cạnh tranh với công ty được bán hoặc bên thâu tóm công ty đó. Các loại hợp đồng này không bị cấm, tuy nhiên chúng thường sát với đường biên trái với pháp luật cạnh tranh. Bản thân các doanh nghiệp thường nhìn nhận hạn chế cạnh tr

Gần đây những phát triển trong quá trình thực thi pháp luật của Ủy ban châu Âu (EC) đã chỉ ra rằng các thỏa thuận thông thường được đưa ra để bảo vệ các khoản đầu tư và các nhà đầu tư nói chung, có thể không tuân theo quy định của luật cạnh tranh. Vào tháng Giêng năm 2013, EC đã xử lý một vụ việc quan trọng liên quan đến hợp đồng mua bán giữa các nhà khai thác điện thoại quốc tế Telefónica và Telecom Bồ Đào Nha. Theo như giao dịch, Telefónica đã trở thành cổ đông duy nhất của Vivo, một công ty của Brazil. Trước hợp đồng nói trên, các bên tham gia hợp đồng đã cùng nhau chia sẻ việc điều hành công ty này. Một phần trong hợp đồng mua bán này là thỏa thuận trong đó quy định rằng Telefónica và Bồ Đào Nha Telecom sẽ không cạnh tranh với nhau ở các thị trường Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha kể từ tháng 9 năm 2010 đến cuối năm 2011.

EC đã chủ động tiến hành một cuộc điều tra để tìm hiểu vấn đề này. Trong cuộc điều tra, Telefónica và Bồ Đào Nha Telecom đã đưa ra các chứng cứ cho thấy họ đã chấm dứt hợp đồng hạn chế cạnh tranh này khoảng 4 tháng sau khi hợp đồng bắt đầu có hiệu lực. Vậy vấn đề ở đây là gì? Trong hợp đồng mua bán này, các bên đã cố ý thỏa thuận rằng họ sẽ tránh thị trường trong nước của nhau trong khoảng một năm rưỡi sau khi vụ việc mua bán công ty hoàn tất. Tuy nhiên, bản thân thỏa thuận hạn chế này đã cho thấy sự không hợp lý, bởi nó thể hiện một sự hạn chế nghiêm trọng trong quá trình phát triển thị trường viễn thông. Không có bất kỳ một bên nào có nhu cầu hạn chế vì công ty mua lại có nguồn gốc từ Brazil, do đó không hoạt động ở châu Âu. Hơn nữa, không có gì chỉ ra rằng trong trường hợp trên thực tế Telefónica hoặc Bồ Đào Nha Telecom cạnh tranh với nhau, đầu tư của nhà thu mua sẽ không được bảo đảm. Thậm chí hơn thế, cả EC và cơ quan Quản lý cạnh tranh Estonia nhìn chung đã không chỉ ra được rằng đâu là rào cản hạn chế cạnh tranh đối với hoạt động của người bán.

Khi đồng ý với các điều khoản hạn chế cạnh tranh như trên, các bên phải đảm bảo rằng những hạn chế như vậy sẽ liên quan trực tiếp đến giao dịch, căn cứ và sự cần thiết cho việc ban hành các giao dịch của chính nó. Hơn nữa, những hạn chế đó phải bảo vệ quyền lợi của bên mua chứ không phải bảo vệ quyền lợi của những người bán. Cũng cần nói thêm rằng, mặc dù trong thời gian hạn chế cạnh tranh thường được cho phép lên đến 3 năm, trong một số trường hợp thời gian này có thể ngắn hơn (ví dụ là một năm) hoặc dài hơn (ví dụ như lên đến 5 năm). Đối với trường hợp nêu trên, các bên đã thống nhất một hạn chế với thời hạn một năm rưỡi và thực tế áp dụng nó chỉ trong 4 tháng. Tuy nhiên hình phạt cho việc thiết lập một hạn chế như vậy là đáng kể về vấn đề của thời gian hạn chế. Cụ thể, tiền phạt cho Telefónica là 70 triệu EUR và cho Bồ Đào Nha Telecom EUR là 13 triệu. EC đã giải thích rằng hình phạt nghiêm khắc trên được đưa ra dựa trên mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm đến bản chất của pháp luật cạnh tranh. Theo EC, vụ việc này là khá điển hình bởi hoàn cảnh của vụ việc và mức độ hình phạt. Do đó, những hạn chế cạnh tranh được đưa ra trong các hợp đồng mua bán có thể bị coi vi phạm luật cạnh tranh đáng kể.

 

Thông tin khác