Hồng Kông ban hành Luật Cạnh tranh

1. Luật Cạnh tranh Hồng Kông đã được thông qua với bản dự thảo sửa đổi lần thứ ba, sáu năm sau khi dự luật này chính thức được đưa ra lấy ý kiến công khai. Đạo luật này sau khi được Trưởng đặc khu hành chính Hồng Kông ký và ban hành được cho là sẽ tác động đến nhiều mặt đời sống kinh tế - xã hội Hồng Kông.

A. Qúa trình ban hành luật

2. Qúa trình chuẩn bị cho việc chính thức ban hành luật cạnh tranh được bắt đầu với hai vòng tham vấn công khai, diễn ra trong năm 2006 và 2008. Sau đó dự luật này đã được đệ trình lên Hội đồng tư pháp ngày 14 tháng 7 năm 2010.

3. Trải qua hai năm, Ban soạn thảo luật cạnh tranh, bộ phận được thành lập để nghiên cứu, rà soát về dự án luật này, đã tổ chức hơn 30 cuộc họp nhằm thu thập các ý kiến, quan điểm về dự án luật cạnh tranh. Bên lề các cuộc họp là những buổi thảo luận với đại diện các tổ chức khác nhau, đại diện của khu vực kinh tế công, đại diện khu vực kinh tế tư nhân, các học giả và các viện nghiên cứu. Những cuộc thảo luận này cũng đặt ra vấn đề liên quan đến gói đề xuất cần nhanh chóng ban hành dự án luật này, bằng việc thông qua bản dự thảo thứ hai và thứ ba, từ ngày 6 đến ngày 14 tháng 6 năm 2012.

B. Các đặc điểm chính của luật

4. Khi xem xét vấn đề, Ban soạn thảo luật đã tham khảo những đạo luật có tính chặt chẽ cao như luật của Uỷ ban châu Âu, luật cạnh tranh của Vương quốc Anh và Singapore.

5. Dự án luật này đã đưa ra mô hình cho việc thực thi tư pháp, trong đó chức năng điều tra và chức năng xét xử sẽ được các tổ chức riêng biệt thực hiện. Ủy ban cạnh tranh được thành lập sẽ đóng vai trò như là một cơ quan độc lập với chức năng điều tra các hành vi phản cạnh tranh và thực hiện các thủ tục tố tụng trước Tòa án cạnh tranh, trong khi Tòa án sẽ thực hiện chức năng xét xử các vụ việc cạnh tranh do Ủy ban gửi lên, cũng như xét xử các vụ án khác.

6. Luật này quy định hai điều cấm chủ yếu. Điều cấm đầu tiên chống lại các thỏa thuận phản cạnh tranh, các quyết định hoặc các thỏa thuận thực hiện hành vi phản cạnh tranh mà đối tượng hoặc hậu quả của việc thực hiện nó là ngăn chặn, hạn chế hoặc bóp méo cạnh tranh ở Hồng Kông. Đây là lần đầu tiên các quy tắc ứng xử về cạnh tranh được ban hành, có tham khảo từ quy định nhằm ngăn chặn các thỏa thuận phản cạnh tranh đã được cơ quan tư pháp chấp nhận, đồng thời phân biệt giữa các hoạt động “phản cạnh tranh cứng” (nghĩa là, ấn định giá, gian lận thầu, phân bổ thị trường và kiểm soát đầu ra) và các hoạt động “phản cạnh tranh mềm”.

7. Điều cấm thứ hai là cấm lạm dụng “sức mạnh thị trường ở mức độ đáng kể”. Đạo luật cũng đưa ra các trường hợp hưởng miễn trừ liên quan đến các quy tắc cạnh tranh và việc thực thi nó.

8. Trong khi đạo luật này không quy định việc cho phép được hưởng miễn trừ đối với các thỏa thuận theo chiều dọc (không giống như ở Singapore, nơi mà các thỏa thuận theo chiều dọc được tách ra khỏi mục 34 của luật quy định về các thỏa thuận cấm, đi ngược lại cạnh tranh), cơ quan quản lý cho biết, sau khi đạo luật được thông qua, sẽ xem xét việc ban hành quy định miễn trừ đối với “một số loại thỏa thuận theo chiều dọc, liên quan đến một vài lĩnh vực ở Hồng Kông”.

9. Trong một phản ứng liên quan đến việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải được đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ để hạn chế ảnh hưởng từ các tác động phản cạnh tranh trên thị trường, cơ quan quản lý đã ban hành một số quy định cần thiết tối thiểu làm cơ sở định hướng cho các thỏa thuận hoặc hành vi phù hợp, để tránh mang lại bất kỳ ảnh hưởng đáng kể nào về cạnh tranh.

10. Mặc dù đạo luật đã quy định các quy tắc về sáp nhập, nhưng việc kiểm soát hoạt động này mới chỉ bị giới hạn trong phạm vi các giao dịch liên quan đến giấy phép hoạt động đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông. Tuy nhiên, cơ quan quản lý cũng cho biết, trong tương lai có thể xem xét đến việc mở rộng phạm vi áp dụng các quy tắc sáp nhập vượt quá phạm vi hiện tại.

11. Đạo luật này cũng cho phép Uỷ ban có quyền hạn rộng trong việc điều tra và thực thi luật, bao gồm khả năng xem xét và quyết định có chấp nhận hay không chấp nhận một cam kết được hưởng miễn trừ, và ban hành cảnh báo đối với các vi phạm theo quy tắc ứng xử đầu tiên.

C. Định hướng trong tương lai

12. Cơ quan quản lý cho rằng đạo luật đã dự trù được phương pháp tiếp cận theo từng giai đoạn để thực thi cơ chế cạnh tranh, “để từ đó công chúng và các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần có thể làm quen và thích ứng với các yêu cầu pháp lý mới”.

13. Trong khi cơ quan quản lý không đưa ra bất kỳ cam kết nào về khung thời gian thực hiện, đạo luật này cũng chỉ ra rằng quá trình chuẩn bị dự kiến phải mất ít nhất một năm, với ưu tiên trước mắt là thành lập Uỷ ban cạnh tranh và Tòa án. Dự kiến, Uỷ ban này sẽ ban hành các hướng dẫn để làm cơ sở cho việc thực thi luật. 

Thông tin khác