Tổng quan về Luật cạnh tranh

Nhìn chung, luật cạnh tranh điều chỉnh các hành vi độc quyền ở ở ba hình thức trong mối quan hệ giữa các công ty với nhau, hành động của một công ty hoặc sự kết hợp về cấu trúc giữa các công ty độc lập. Ba hình thức này là: các thoả thuận hạn chế cạnh tranh; độc quyền, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc vị trí thống lĩnh và sáp nhập.

 

1.      Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh:

Có hai dạng thoả thuận hạn chế cạnh tranh là thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc và theo chiều ngang. Nếu thoả thuận hạn chế cạnh tranh “theo chiều ngang” là giữa các công ty cùng kinh doanh trong một lĩnh vực thì thoả thuận hạn chế cạnh tranh “theo chiều dọc” là giữa các công ty ở các giai đoạn sản xuất hoặc phân phối khác nhau.

Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh cho phép các nhóm công ty hoạt động cùng nhau nhằm đạt được lợi ích trong vị trí độc quyền, tăng giá, hạn chế sản phẩm và ngăn cản sự xâm nhập mới vào thị trường hoặc các hoạt động phát triển (thường công nghệ hoặc kỹ thuật). Những thoả thuận theo chiều ngang nguy hiểm nhất là các thoả thuận ngăn cản sự ganh đua về các động lực cơ bản của cạnh tranh trên thị trường là giá cả và sản phẩm. Hầu hết các luật cạnh tranh đương thời xử phạt nghiêm khắc các thoả thuận ấn định giá, hạn chế số lượng sản phẩm tiêu thụ, thông đồng trong đấu thầu hoặc phân chia thị trường. Khi cho phép các thoả thuận này có hiệu lực, những công ty cạnh tranh có thể còn thoả thuận về các biện pháp ngăn cản sự cạnh tranh mới hoặc phân biệt đối xử với các công ty không cùng phe, do đó luật cạnh tranh cũng cố gắng ngăn chặn và cấm gièm pha công ty khác. Hợp tác theo chiều ngang trong các vấn đề khác chẳng hạn như tiêu chuẩn của sản phẩm, nghiên cứu và chất lượng có thể cũng ảnh hưởng tới cạnh tranh nhưng sự ảnh hưởng đó là tích cực hay tiêu cực còn dựa vào các điều kiện của thị trường. Do đó, hầu hết các luật đều xem xét các thoả thuận này trên cơ sở các yếu tố có lợi và có hại hoặc bằng cách đưa ra các quy định chi tiết để nhận biết và miễn trừ đối với các hành vi có lợi cho cạnh tranh.

Thoả thuận theo chiều dọc nhằm nắm giữ mặt phân phối. Nguyên nhân quan ngại cũng tương tự: các thoả thuận này có thể làm tăng giá, giảm số lượng (hoặc chất lượng kém hơn) hoặc ngăn cản sự gia nhập mới và phát triển công nghệ.

Do sự ảnh hưởng đối với cạnh tranh của các thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc có thể phức tạp hơn các thoả thuận theo chiều ngang, sự điều chỉnh pháp lý đối với các loại thoả thuận này có thể khác nhau thậm chí đa dạng hơn cả các quy định đối với các thoả thuận theo chiều ngang. Một thể loại cơ bản của kiểu thoả thuận này là quy định giá bán lại: các thoả thuận theo chiều dọc có thể khống chế giá bán lại tối đa hoặc tối thiểu. Trong một số trường hợp, hệ quả có thể là các nhà phân phối sẽ lũng đoạn thị trường. Tuy nhiên, trong trường hợp khác, có thể nhân đôi hoặc làm cho một cartel có hiệu lực. Các thoả thuận cho phép loại trừ liên quan tới quyền hoặc lãnh thổ địa lý có thể khuyến khích các công ty nỗ lực hơn trong việc bán các sản phẩm của nhà cung cấp hoặc các công ty này có thể bảo vệ các nhà cung cấp khỏi cạnh tranh hoặc sự gia nhập mới của các nhà cung cấp khác.

Tuỳ theo từng hoàn cảnh, các thoả thuận về sản phẩm kết hợp chẳng hạn như yêu cầu các nhà phân phối đảm nhận tất cả các khâu hoặc trói buộc các sản phẩm khác nhau lại (chẳng hạn như yêu cầu bán kèm hoặc mua kèm một sản phẩm với một sản phẩm đang được thị trường ưa chuộng-ND), có thể hoặc tạo điều kiện hoặc hạn chế giới thiệu một sản phẩm mới. Quyền kinh doanh thường bao gồm một tập hợp các thoả thuận theo chiều dọc với các yếu tố cạnh tranh quan trọng. Một thoả thuận về sử dụng quyền kinh doanh có thể bao gồm các điều khoản về cạnh tranh trong cùng môi trường địa lý, về việc liên hệ với nguồn cung và về các quyền đối với sở hữu trí tuệ chẳng hạn thương hiệu (ví dụ như kinh doanh dưới thương hiệu nào đó phải đảm bảo thống nhất về cách thức trang trí cửa hàng hay sử dụng cùng một nhà cung cấp dịch vụ…-ND).

2.      Lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền

Loại thứ hai là “độc quyền” hoặc “lạm dụng vị trí độc quyền”, tên gọi tuỳ theo văn bản pháp luật của từng nước. Các hệ thống pháp lý sử dụng tên gọi khác nhau đã phát triển những cách điều chỉnh khác nhau đối với vấn đề quyền lực kinh tế của một doanh nghiệp đơn lẻ. Lạm dụng vị trí độc quyền chủ yếu liên quan tới hành vi của các doanh nghiệp độc lập. Một công ty độc quyền đích thực do không phải đối mặt với cạnh tranh hay đe doạ cạnh tranh sẽ đưa mức giá cao hơn và sản xuất ít hơn hoặc sản phẩm chất lượng kém hơn. Công ty này cũng có thể ít giới thiệu các sản phẩm phát triển hay các phương pháp cải tiến chất lượng. Luật chống độc quyền thường nhắm vào các chiến thuật loại trừ mà bằng cách đó, các công ty có thể đạt được hoặc bảo vệ vị trí độc quyền. Luật chống lạm dụng vị trí độc quyền cũng nêu ra các vấn đề tương tự và có khi còn quy định về các cách thức thực thi quyền lực trên thị trường. Ví dụ theo các hệ thống lạm dụng vị trí thống lĩnh, việc đưa ra mức giá cao một cách bất hợp lý có thể đã là vi phạm luật.

        3.    Sáp nhập

Loại thứ ba thường được gọi là “sáp nhập” hay “tập trung kinh tế” bao gồm các loại hợp nhất về cấu trúc chẳng hạn như cổ phần hoặc tài sản, công ty liên doanh, cùng nắm giữ cổ phần hoặc ban quản trị phối hợp (cùng tham gia trong vấn đề điều hành công ty-ND). Quản lý việc sáp nhập nhằm ngăn chặn sự hình thành của các công cuộc kinh doanh mà bằng cách kết hợp về mặt cấu trúc, việc kinh doanh này sẽ có động cơ và khả năng thực thi quyền lực thị trường. Trong một số trường hợp, việc kiểm tra mức độ hợp pháp xuất phát từ luật điều chỉnh về các hành vi thống lĩnh hoặc hạn chế; trường hợp khác sẽ kiểm tra riêng từng vấn đề có liên quan tới khả năng ảnh hưởng đối với cạnh tranh nói chung. Quá trình phân tích được áp dụng nhằm đưa ra tính chất của sản phẩm cạnh tranh, công ty có thể cạnh tranh, các thị phần liên quan và tầm quan trọng chiến lược của các công ty đó với thị trường sản phẩm liên quan. Một nhân tố quan trọng là khả năng gia nhập mới và sự tồn tại của các rào cản có ảnh hưởng tới sự gia nhập mới vào thị trường.

Hầu hết các hệ thống luật áp dụng một số cách kiểm tra thị phần hoặc hướng dẫn điều tra thêm hoặc như một giả định về tính hợp pháp. Việc sáp nhập tại các thị trường có độ tập trung bất thường hoặc việc sáp nhập tạo ra các công ty có thị phần cao bất thường được coi là có nhiều khả năng ảnh hưởng tới cạnh tranh hơn. Và hầu hết các hệ thống đều phân loại các quá trình để phát hiện trước cho các cơ quan chức năng về những chuyển giao lớn hơn, quan trọng hơn và các quá trình đặc biệt để tiến hành điều tra, do đó các vấn đề có thể được nhận dạng và giải quyết trước khi có sự cơ cấu lại thực sự được tiến hành.

Kết luận

Các hình thức hợp tác giữa các công ty hoặc của một công ty đơn lẻ nhằm tối đa hoá lợi nhuận trên thị trường đang diễn ra ngày càng nhiều. Đó cũng là lý do luật cạnh tranh đang được thông qua ở ngày càng nhiều các quốc gia trên thế giới với xu hướng ngày càng trừng phạt nặng hơn đối với các hành vi có hại cho cạnh tranh, làm giảm sự năng động của thị trường và làm méo mó quan hệ cung cầu. Mục đích cuối cùng của luật cạnh tranh là bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng sao cho người tiêu dùng có quyền được lựa chọn sản phẩm tốt nhất và giá cả phù hợp nhất với nhu cầu của mình. Tuy nhiên hiện nay vấn đề khó nhất mà luật cạnh tranh đang phải đối mặt là làm sao để nhận biết hình thức hợp tác nào là có lợi, hình thức nào là có hại cho cạnh tranh bởi các hình thức này ngày càng phức tạp, đa dạng giữa các quốc gia. Thậm chí trong luật cạnh tranh của nước này thì hình thức đó được phép, ở nước khác lại bị cấm. Luật cạnh tranh muốn thực thi hiệu quả còn cần sự hợp tác thường xuyên giữa các quốc gia trên thế giới.

Thông tin khác