Các cam kết quốc tế về Luật và chính sách cạnh tranh của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do

Số lượng các Hiệp định thương mại trên thế giới tăng một cách nhanh chóng về số lượng, đặc biệt kể từ thập niên 1990. Cùng với chủ nghĩa đa phương hóa, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bắt đầu hướng vào việc tham gia các Hiệp định FTA như là một công cụ thương mại từ những năm đầu thập niên 1990. Tại khu vực, số lượng FTA được ký kết trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2015 tăng lên đáng kể với tổng cộng 479 FTA.

1. Chính sách cạnh tranh và vấn đề tự do hóa thương mại

Số lượng các Hiệp định thương mại trên thế giới tăng một cách nhanh chóng về số lượng, đặc biệt kể từ thập niên 1990. Cùng với chủ nghĩa đa phương hóa, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bắt đầu hướng vào việc tham gia các Hiệp định FTA như là một công cụ thương mại từ những năm đầu thập niên 1990. Tại khu vực, số lượng FTA được ký kết trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2015 tăng lên đáng kể với tổng cộng 479 FTA.

Có thể thấy bối cảnh và nội dung đàm phán trong các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương trên thế giới đã có nhiều thay đổi. Trước đây, các nội dung đàm phán truyền thống trong các FTA chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như mở cửa thị trường, thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, rảo cản kỹ thuật trong thương mại,v.v. Hiện nay, rất nhiều lĩnh vực mới đã được đưa vào và trở thành những nội dung đàm phán quan trọng. Chính sách cạnh tranh là một trong những lĩnh vực đó.

Việc đưa những quy định về chính sách cạnh tranh vào trong các FTA song phương và khu vực có nhiều ý nghĩa và mục đích. Thứ nhất là để củng cố mục tiêu của FTA.  Hầu hết những FTA có chương về chính sách cạnh tranh đều nhấn mạnh lợi ích mà các điều khoản này mang lại cho tự do thương mại và đầu tư và chống lại các hành vi phản cạnh tranh xuyên biên giới. Hiệu quả của FTA chỉ thực sự được hoàn thiện khi các rào cản thương mại được loại bỏ song song với việc loại bỏ các hành vi hạn chế cạnh tranh (HCCT) có thể diễn ra và gây hại đến thị trường.

Mục đích thứ hai của việc đưa các điều khoản quy định về chính sách cạnh tranh trong các FTA là để tăng cường sự liên kết về kinh tế và chính trị ở cấp khu vực. Việc tạo ra chính sách cạnh tranh mang tính khu vực và các cơ quan cạnh tranh có tính chất hội nhập cao, với một mức độ nào đó, hình thành nên các liên kết chính trị và kinh tế vững chắc. Thông thường, các hiệp định có mức độ cam kết cao sẽ có những điều khoản quy định rất cụ thể liên quan đến chính sách cạnh tranh. Tuy nhiên, khi các đối tác tham gia hiệp định muốn hướng tới thị trường chung với mức độ hội nhập và liên kết kinh tế cao (ví dụ như EU), thì quy định điều chỉnh các hành vi phản cạnh tranh cũng không thể chồng lấn hay trái với các quy định riêng của từng quốc gia trong khuôn khổ thị trường hội nhập.

Mục đích thứ ba của việc đưa các điều khoản về chính sách cạnh tranh vào các FTA là để phối hợp xử lý có hiệu quả hơn các hành vi phản cạnh tranh ở cấp độ xuyên quốc gia. Cùng với việc mở rộng ra thị trường quốc tế, các quốc gia trở nên thận trọng hơn đối với các hành vi phản cạnh tranh có thể phát sinh từ các quốc gia lân cận và từ các hoạt động kinh doanh xuyên quốc gia như thông đồng cartel mang tính chất quốc tế, mua bán sáp nhập đa quốc gia. Các vụ tập trung kinh tế có thể gây nên những quan ngại về cạnh tranh liên quốc gia hoặc bản thân một quốc gia xảy ra mua bán và sáp nhập (thường là ở các nước có nền kinh tế phát triển) do những vụ mua bán và sáp nhập đó có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tại các chi nhánh/công ty con/đại diện của các công ty tại nhiều quốc gia khác (thường là tại các nước đang phát triển).

2. Chính sách cạnh tranh trong các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết hoặc kết thúc đàm phán

Trước năm 2010, trong các FTA mà Việt Nam đã tham gia ký kết và có hiệu lực thi hành chỉ có 02 Hiệp định có quy định về chính sách cạnh tranh là Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản trong khuôn khổ Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) và Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Úc – New Zealand (AANZFTA). Trước xu hướng đưa các quy định về cạnh tranh vào các FTA trên thế giới, tất cả các Hiệp định kể từ năm 2010 trở về sau mà Việt Nam đang đàm phán, đã ký kết hoặc đã có hiệu lực đều có chương Chính sách cạnh tranh với phạm vi cam kết sâu rộng hơn các FTA trước đó.

2.1. Hiệp định Khu vực Tự do Thương mại ASEAN – Úc – New Zealand (AANZFTA)

Với quy mô gồm 18 chương kèm theo các lịch trình cam kết cụ thể, Hiệp định AANZFTA bao quát các lĩnh vực như thương mại hàng hoá, dịch vụ (bao gồm dịch vụ tài chính và viễn thông), thương mại điện tử, di chuyển của thể nhân, đầu tư, cơ chế giải quyết tranh chấp và các điều khoản cụ thể trong các lĩnh vực khác như: các biện pháp kiểm dịch động thực vật, tiêu chuẩn, các quy định kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp, sở hữu trí tuệ và cạnh tranh. Hiệp định có riêng một chương về cạnh tranh, bao gồm (i) Các nguyên tắc cơ bản; (ii) Các quy định về hợp tác, (iii) Đầu mối hợp tác và (iv) Cơ chế tham vấn, giải quyết tranh chấp.

2.2. Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (JVEPA) (trong khuôn khổ Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản – AJCEP)

Chương cạnh tranh trong khuôn khổ JVEPA bao gồm những quy định chung về hợp tác. Các quy định/ cơ chế hợp tác cụ thể trong lĩnh vực này để cơ quan cạnh tranh của hai nước đàm phán cụ thể. Chương này quy định các điều khoản cơ bản như sau: (i) Thúc đẩy cạnh tranh thông qua xử lý các hành vi phản cạnh tranh; (ii) Các định nghĩa về cạnh tranh; (iii) Hợp tác thúc đẩy cạnh tranh bằng việc điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh; (iv) Hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực cạnh tranh; (v) Điều khoản không áp dụng và Điều khoản thực thi.

2.3. Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Chương về chính sách cạnh tranh trong TPP quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc thúc đẩy thị trường cạnh tranh bằng cách áp dụng và duy trì pháp luật xử lý các hành vi kinh doanh phản cạnh tranh. Cụ thể như sau:

Ban hành và thực thi luật cạnh tranh và thành lập cơ quan cạnh tranh

Các nước thành viên TPP phải:

  • Thiết lập hoặc duy trì luật cạnh tranh quốc gia cấm các hành vi kinh doanh phản cạnh tranh;
  • Nỗ lực áp dụng pháp luật cạnh tranh đối với tất cả các hoạt động thương mại trong lãnh thổ của mình; và
  • Duy trì một cơ quan chịu trách nhiệm thực thi luật cạnh tranh quốc gia.

Công bằng trong tố tụng cạnh tranh

Các nước thành viên TPP phải đảm bảo công bằng trong thủ tục thực thi luật cạnh tranh quốc gia. Các nước phải có thủ tục bằng văn bản về quy trình điều tra pháp luật cạnh tranh, cũng như quy định về tố tụng và bằng chứng áp dụng trong quá trình thực thi. Trước khi một nước có thể áp dụng hình phạt hoặc biện pháp khắc phục đối với người vi phạm luật cạnh tranh, nước đó phải cho phép người đó: biết được thông tin về quan ngại của cơ quan cạnh tranh và cho họ cơ hội hợp lý có luật sư đại diện. Một nước thành viên TPP cũng phải cho phép người bị xử phạt có cơ hội được khiếu nại để xem xét lại quyết định đó.

Quyền khởi kiện cá nhân

Các nước thành viên TPP phải có luật hoặc các biện pháp khác (ví dụ như các quy định, thủ tục) cho phép các doanh nghiệp hoặc cá nhân (kể cả từ các nước thành viên TPP khác) có hành động pháp lý để đòi bồi thường cho tổn thất hoặc thiệt hại do hành vi vi phạm luật cạnh tranh quốc gia.

Bảo vệ người tiêu dùng

Các nước thành viên TPP phải có luật cấm các hoạt động thương mại gian dối hoặc lừa đảo gây tổn hại hoặc có thể gây tổn hại cho người tiêu dùng. Vì các hoạt động gian dối và lừa đảo có thể khỏi vượt qua biên giới quốc gia, Hiệp định khuyến khích các nước hợp tác và phối hợp cùng nỗ lực để giải quyết các hoạt động đó.

Minh bạch hóa

Các nước thành viên công nhận giá trị của việc thực thi chính sách cạnh tranh một cách minh bạch. Để đảm bảo điều này, các nước được khuyến khích đảm bảo các thông tin cập nhật sẽ được đăng tải trên cơ sở dữ liệu Luật Cạnh tranh và chính sách của APEC. Theo yêu cầu của nước TPP khác, một nước TPP phải công bố thông tin về chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh. Toàn bộ các quyết định cuối cùng về một vụ việc vi phạm pháp luật cạnh tranh không mang tính chất hình sự, bao gồm căn cứ của quyết định đó, phải được công bố. Thông tin bảo mật được bảo vệ.

Hợp tác

Hiệp định công nhận lợi ích của các nước TPP khi hợp tác và chia sẻ thông tin, kinh nghiệm liên quan đến pháp luật và chính sách cạnh tranh. Ví dụ về sự hợp tác bao gồm:

  • Đào tạo cán bộ;
  • Trợ giúp một nước áp dụng luật cạnh tranh mới; và
  • Trao đổi thông tin về các biện pháp thúc đẩy văn hóa tuân thủ pháp luật cạnh tranh.
2.4. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA)

Chương Chính sách cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA gồm 3 Phần chính: (1) Điều chỉnh các hành vi phản cạnh tranh; (2) Trợ cấp và (3) Doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, doanh nghiệp được cấp đặc quyền, ưu đãi đặc biệt và doanh nghiệp độc quyền chỉ định.

Các hành vi phản cạnh tranh

Phần này gồm 04 Điều gồm: (i) Các nguyên tắc; (ii) Khuôn khổ pháp lý, (iii) Thực thi và (iv) Điều khoản về việc không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp.

Việt Nam và Liên minh châu Âu công nhận tầm quan trọng của môi trường cạnh tranh lành mạnh và các hành vi phản cạnh tranh có thể làm sai lệch sự vận hành đúng đắn của thị trường cũng như làm suy giảm lợi ích của quá trình tự do hóa thương mại. Trên cơ sở nguyên tắc đó, hai Bên cam kết áp dụng và duy trì khuôn khổ pháp luật cạnh tranh toàn diện trên cơ sở tự quyết nhằm xử lý các hành vi phản cạnh tranh như thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh và tập trung kinh tế gây cản trở cạnh tranh một cách đáng kể.

Hai Bên đều phải duy trì cơ quan chịu trách nhiệm, được trang bị phù hợp và có thẩm quyền cần thiết để thực thi đầy đủ và hiệu quả pháp luật cạnh tranh. Luật Cạnh tranh phải được thực thi một cách minh bạch và không mang tính phân biệt đối xử, tôn trọng các nguyên tắc công bằng trong tố tụng cạnh tranh cũng như quyền bảo vệ của đối tượng điều chỉnh. Các miễn trừ áp dụng pháp luật cạnh tranh cần được giới hạn trong phạm vi phù hợp với mục tiêu chính sách công.

Trợ cấp

Việt Nam và Liên minh châu Âu thống nhất rằng các Bên đều có quyền trợ cấp để thực hiện mục tiêu chính sách công khi cần thiết. Tuy nhiên, một số dạng trợ cấp nhất định có thể có tác động đến sự vận hành đúng đắn của thị trường và làm suy giảm lợi ích của quá trình tự do hóa thương mại. Hai Bên đã thống nhất một số nguyên tắc khi đưa ra các chính sách và chương trình trợ cấp trên cơ sở tương thích với các nguyên tắc của WTO, tương tự các Hiệp định FTA khác của hai Bên và đảm bảo phù hợp với trình độ phát triển khác nhau của mỗi Bên. Cụ thể như sau:

  • Các Bên phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp khi nhận được trợ cấp để thực hiện một mục tiêu chính sách công thì cần phải sử dụng đúng mục đích khoản trợ cấp đó.
  • Các Bên có nghĩa vụ đảm bảo tính minh bạch khi cung cấp các khoản trợ cấp dành riêng cho doanh nghiệp (tương tự nghĩa vụ thông báo theo Hiệp định Trợ cấp của WTO) khi khoản trợ cấp đó có giá trị vượt quá ngưỡng quy đổi tương đương 10 tỷ VNĐ trong khoảng thời gian 3 năm. Lưu ý rằng không phải bất kỳ khoản hỗ trợ nào của nhà nước dành cho doanh nghiệp cũng là trợ cấp dành riêng thuộc đối tượng điều chỉnh của Hiệp định này.
  • Các Bên cũng cam kết khi trợ cấp cho một doanh nghiệp dưới hình thức xử lý nợ hoặc hỗ trợ doanh nghiệp gặp khó khăn thì sẽ có những giới hạn và điều kiện để doanh nghiệp có trách nhiệm trong việc nhận được hỗ trợ và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai Bên.
  • Ngoài ra, Việt Nam và Liên minh châu Âu cũng thiết lập một cơ chế tham vấn để nỗ lực cùng nhau đối thoại hoặc xử lý khi có quan ngại về tác động bất lợi của trợ cấp dành riêng tới quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai Bên. Hai Bên cũng sẽ tăng cường hợp tác trong lĩnh vực kiểm soát hiệu quả sử dụng trợ cấp.
3. Sự tương thích của các cam kết với pháp luật cạnh tranh trong nước
Từ phân tích nội dung các cam kết về chính sách cạnh tranh trong các FTA mà Việt Nam tham gia, có thể rút ra một số đánh giá chung về tính tương thích với pháp luật cạnh tranh trong nước như sau:

3.1. Về cách tiếp cận

Việt Nam đã tham gia đàm phán về chính sách cạnh tranh một cách chủ động căn cứ theo pháp luật cạnh tranh hiện hành và các pháp luật có liên quan tới cạnh tranh. Tuy nhiên, với thực trạng là một nền kinh tế chuyển đổi và văn hóa cạnh tranh còn là một khái niệm mới mẻ đối với cộng đồng doanh nghiệp nên Việt Nam có quan điểm về nguyên tắc đàm phán là cam kết phù hợp với khả năng thực thi, phù hợp về mặt nguyên tắc đối với pháp luật cạnh tranh, chú trọng tới việc hợp tác, trao đổi/chia sẻ thông tin và hỗ trợ kỹ thuật.

3.2. Về nội dung các cam kết

Trước năm 2010, nội dung về cạnh tranh được đàm phán và ký kết trong khuôn khổ các FTA chủ yếu mang tính nguyên tắc, đề cập đến tầm quan trọng của chính sách và pháp luật cạnh tranh của các bên tham gia Hiệp định, trong đó có công nhận sự khác biệt, chênh lệch về trình độ phát triển của mỗi bên trong pháp luật và chính sách cạnh tranh. Điều này là cơ sở để có được những đối xử đặc biệt và khác biệt với các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam (SDT), cụ thể là vấn đề hỗ trợ kỹ thuật. Tóm lại, nội dung chưa đề cập đến những vấn đề cụ thể mang tính quy phạm điều chỉnh cạnh tranh mà chỉ đề cập đến những vấn đề có liên quan tới cạnh tranh như nguyên tắc chung, hợp tác, hỗ trợ kỹ thuật và sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, với các FTA thế hệ mới gần đây như TPP và EVFTA, Việt Nam đã có những cam kết ở mức tương đối sâu và mang tính chất cam kết ràng buộc. Điều này cũng phù hợp với xu thế phát triển và khả năng thực thi pháp luật trong nước.

Về cơ bản, các quy định trong chương về chính sách cạnh tranh trong các FTA thế hệ mới phù hợp với các quy định hiện tại của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, qua rà soát, còn có một số điểm chưa được quy định rõ ràng, cụ thể trong pháp luật về cạnh tranh (liên quan đến thủ tục công bằng trong tố tụng cạnh tranh, quyền tham vấn và quyền khởi kiện cá nhân và minh bạch hóa các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh).

4. Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cạnh tranh

Với những phân tích như trên, nhằm đảm bảo các cam kết về chính sách cạnh tranh trong khuôn khổ FTA có thể hỗ trợ việc thực thi pháp luật về cạnh tranh và thúc đẩy môi trường cạnh tranh hiệu quả trong nước cũng như với các nước đối tác, việc sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Luật Cạnh tranh 2004 và các Nghị định hướng dẫn thi hành cần có quy định cụ thể hơn đối với một số nội dung đã cam kết trong các FTA thế hệ mới, gồm:

  1. Quyền được tham vấn với cơ quan quản lý cạnh tranh của tổ chức, cá nhân bị điều tra trong suốt quá trình điều tra;
  2. Quyền khởi kiện cá nhân được khắc phục, bồi thường tổn thất từ hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh;
  3. Nghĩa vụ công bố công khai Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh (đối với vụ việc có kết luận vi phạm Luật Cạnh tranh) hoặc đảm bảo rằng bất kỳ tổ chức, cá nhân và bất kỳ đối tác của Hiệp định thương mại tự do nào có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng có quyền tiếp cận những Quyết định này (ngoại trừ các thông tin được coi là bí mật theo quy định của pháp luật).

PHỤ LỤC: CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO SONG PHƯƠNG VÀ KHU VỰC CỦA VIỆT NAM

STT

Tên gọi

Thành viên

Tình trạng

  1.  

Hiệp định Khu vực thương mại Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area– AFTA)

10 nước thành viên ASEAN

Đã ký kết và có hiệu lực

  1.  

ASEAN - Trung Quốc (ASEAN – China Comprehensive Economic Cooperation Agreement - ACFTA)

10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc

Đã ký kết và có hiệu lực

  1.  

ASEAN - Nhật Bản (ASEAN – Japan Comprehensive Economic Cooperation Agreement AJFTA)

10 nước thành viên ASEAN và Nhật Bản

Đã ký kết và có hiệu lực

  1.  

ASEAN- Hàn Quốc (ASEAN – China Comprehensive Economic Cooperation Agreement - AKFTA)

10 nước thành viên ASEAN và Hàn Quốc

Đã ký kết và có hiệu lực

  1.  

ASEAN - Ấn Độ (ASEAN – India Regional Trade and Investment Area)

10 nước thành viên ASEAN và Ấn Độ

Đã ký kết và có hiệu lực

  1.  

ASEAN- Úc- New Zealand

(ASEAN – Australia and New Zealand Free Trade Agreement)

10 nước thành viên ASEAN và Úc, New Zealand

Đã ký kết và có hiệu lực

  1.  

Việt Nam - Nhật Bản (Japan – Vietnam Economic Partnership Agreement)

Việt Nam và Nhật Bản

Đã ký kết và có hiệu lực

  1.  

Việt Nam – Hàn Quốc (Vietnam – Korea Free Trade Agreement)

Việt Nam và Hàn Quốc

Đã ký kết và có hiệu lực

  1.  

Việt Nam - Chi Lê (Vietnam- Chile Free Trade Agreement)

Việt Nam và Chi Lê

Đã ký kết và có hiệu lực

  1.  

Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP)

12 nước

Đã ký kết nhưng chưa có hiệu lực

  1.  

Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực - Regional Comprehensive Economic Partnership (RCEP)

10 nước thành viên ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Ấn Độ

Đang đàm phán

  1.  

FTA Việt Nam - EFTA

Việt Nam và 4 nước thành viên khối tự do thương mại châu Âu (Iceland, Liechtenstein, Nauy và Thụy Sĩ)

Đang đàm phán

  1.  

FTA Việt Nam - Liên minh Hải quan Nga - Belarus - Kazakhstan

Việt Nam và Liên minh Hải quan Nga - Belarus - Kazakhstan

Đã ký kết nhưng chưa có hiệu lực

  1.  

European Union – Vietnam FTA

Việt Nam - EU

Kết thúc đàm phán

  1.  

ASEAN – Hong Kong, China FTA

10 nước ASEAN và Hong Kong

Đang đàm phán

  1.  

Vietnam – Israel FTA

Việt Nam - Israel

Đang đàm phán

 

Bùi Nguyễn Anh Tuấn

Phó Vụ trưởng - Phó Chánh Văn phòng Hội đồng Cạnh tranh

Thông tin khác